Sống ở nước ngoài mà thèm ổ bánh mì là chuyện ai cũng gặp. Làm lại thì thiếu đủ thứ: ổ bánh không đúng kiểu, không có pate chay, rau thơm thì hoặc không có hoặc rất đắt.
Nhưng thiếu cái gì và thay bằng cái gì thì có cách tính. Bài này đi theo từng lớp của ổ bánh và nói rõ chỗ nào thay được, chỗ nào không.
Ổ bánh
Baguette Pháp gần nhất về hình. Nhưng vỏ dày và ruột đặc hơn.
Chọn loại vỏ mỏng nhất có thể. Hỏi tiệm bánh.
Bánh mì Việt ở tiệm người Việt là tốt nhất. Nếu thành phố có.
Nhiều tiệm châu Á đông lạnh bánh mì Việt. Nướng lại là được.
Bánh đông nướng thẳng không cần rã. Mười phút.
Không có thì dùng baguette và móc bớt ruột. Ổ mỏng hơn.
Bánh ciabatta cũng dùng được. Ruột rỗng và vỏ mỏng.
Bánh mì tròn kiểu Bồ Đào Nha khá giống. Ở vài nước.
Tránh bánh mì gối mềm. Không giống chút nào.
Nướng lại bánh trước khi kẹp. Bắt buộc với bánh mua sẵn.
Vẩy nước rồi nướng cho vỏ giòn. Cách quen.
Tự làm bánh nếu có lò tốt. Nhiều người ở nước ngoài làm được.
Lò nhà ở nước ngoài thường tốt hơn ở Việt Nam. Lợi thế.
Bánh là phần khó thay nhất. Nhưng cũng dễ chấp nhận nhất.
Pate và lớp béo
Pate chay hiếm khi có ở siêu thị thường. Phải tìm ở tiệm châu Á.
Tự làm thì chắc ăn hơn. Nguyên liệu đều mua được.
Nấm khô có ở tiệm châu Á. Nguồn vị chính.
Đậu hộp có ở mọi siêu thị. Làm nền.
Bơ hạt có khắp nơi. Làm béo và mịn.
Trộn nấm xào với đậu nghiền và bơ hạt. Ra pate chay khá gần.
Nêm nước tương, tiêu, chút ngũ vị hương. Vị Việt.
Ngũ vị hương có ở tiệm châu Á. Dùng rất ít.
Hummus bán sẵn cũng dùng tạm được. Vị khác nhưng cùng vai trò.
Bơ thực vật cho lớp chắn ẩm. Có khắp nơi.
Sốt mayonnaise thuần chay có ở nhiều siêu thị. Đọc nhãn.
Làm pate một mẻ rồi cấp đông. Dùng cả tháng.
Cắt lát rồi đông, lót giấy giữa các lát. Lấy đúng phần cần.
Đây là phần đáng đầu tư nhất. Nó quyết định ổ bánh.
Đạm
Đậu phụ có ở hầu hết siêu thị lớn. Loại cứng thì hợp chiên.
Đậu phụ ở nước ngoài thường cứng hơn. Ép ít hơn cũng được.
Tempeh có ở nhiều nước. Kết cấu chắc và đạm cao.
Seitan là mì căn bán sẵn. Có ở cửa hàng thực phẩm chay.
Đậu hũ ky khô ở tiệm châu Á. Trữ được lâu.
Chả chay đông lạnh ở tiệm Việt. Nếu có.
Đậu hộp các loại. Nghiền hoặc để nguyên.
Nấm tươi có khắp nơi. Nướng hoặc áp chảo.
Mít non đóng hộp bán ở tiệm châu Á. Xé sợi.
Mua một lần nhiều rồi cấp đông. Nếu tiệm châu Á xa.
Ướp đậm vì đạm chay đều nhạt. Nguyên tắc chung.
Chuẩn bị sẵn một hộp đạm đã ướp. Cả tuần dùng.
Đạm là phần dễ tìm nhất. Ít phải lo.
Ăn đa dạng nguồn đạm. Đừng chỉ một loại.
Đồ chua và rau
Cà rốt và củ cải trắng có ở mọi siêu thị. Làm đồ chua được.
Củ cải trắng ở nước ngoài gọi là daikon. Ở tiệm châu Á.
Không có thì dùng củ cải đỏ hoặc su hào. Cùng độ giòn.
Giấm gạo ở tiệm châu Á. Hoặc dùng giấm táo.
Đường và muối thì có khắp nơi. Không lo.
Đồ chua tự làm rất dễ. Không cần nguyên liệu đặc biệt.
Dưa leo có khắp nơi. Bỏ ruột.
Rau mùi tức cilantro có ở siêu thị thường. Dễ tìm nhất.
Húng quế châu Á thì phải ra tiệm châu Á. Khác húng quế Ý.
Không có húng quế Á thì dùng bạc hà. Khác nhưng vẫn tươi.
Trồng rau thơm trong chậu ở cửa sổ. Nhiều người ở nước ngoài làm.
Rau mùi và húng quế trồng chậu được. Rẻ hơn mua nhiều.
Ớt tươi có khắp nơi. Chọn loại cay vừa.
Rau là phần dễ thay nhất. Miễn là có thứ tươi và giòn.
Gia vị và nước sốt
Nước tương có ở mọi siêu thị. Nhưng loại Nhật khác loại Việt.
Nước tương Nhật mặn và ít ngọt hơn. Điều chỉnh khi nêm.
Tìm nước tương Việt ở tiệm châu Á. Nếu muốn đúng vị.
Nước mắm chay ở tiệm châu Á hoặc cửa hàng chay. Đọc nhãn.
Tiêu có khắp nơi. Xay tại chỗ.
Ngũ vị hương ở tiệm châu Á. Một gói dùng rất lâu.
Chao và tương hột ở tiệm châu Á. Trữ được lâu.
Dầu mè ở siêu thị thường cũng có. Khu đồ châu Á.
Mua một lần nhiều gia vị khô. Nếu tiệm châu Á xa.
Gia vị khô trữ được cả năm. Hũ kín.
Nhờ người về Việt Nam mang sang. Thứ khó tìm.
Đặt mua qua mạng từ cửa hàng châu Á. Nhiều nơi giao được.
Một bộ gia vị nền là đủ cho mọi món. Không cần nhiều.
Ghi lại tiệm nào bán thứ gì. Đỡ tìm lại.
Chấp nhận và điều chỉnh
Ổ bánh ở nước ngoài không giống ổ ở Việt Nam. Chấp nhận từ đầu.
Vỏ bánh là chỗ khác rõ nhất. Khó thay nhất.
Rau thơm là chỗ khác thứ hai. Mùi không giống.
Nhưng phần lớn còn lại thì làm được. Đủ để ngon.
Đừng so với ổ bánh mì ở quê. So thì lúc nào cũng thua.
Làm cho ngon theo điều kiện mình có. Đó là đích thực tế.
Mời bạn bè bản xứ ăn thử. Họ thấy rất ngon.
Nói rõ đây là bản làm lại. Không phải bản gốc.
Dạy bạn bè cách làm. Cách giới thiệu món Việt.
Nấu cùng người Việt khác ở gần. Vui và học được.
Chia sẻ nguồn mua nguyên liệu. Giúp người mới sang.
Ghi lại công thức đã chỉnh. Hợp với chợ nơi mình ở.
Về quê thì ăn bản gốc và ghi lại. Cập nhật bản của mình.
Món ăn đi theo người. Và đổi theo nơi nó tới.